Nền tảng của sản xuất cây trồng có lợi nhuận là chương trình cải tạo đất hợp lý. Những chương trình như vậy đòi hỏi phải suy tính trước và lập kế hoạch. Một trong những công cụ hữu ích nhất mà nông dân có thể sử dụng trong quy hoạch độ phì nhiêu của đất là thử nghiệm đất. Lập kế hoạch cho một chương trình sinh sản mà không có dữ liệu kiểm tra đất phần lớn chỉ là phỏng đoán. Các yếu tố khác cần xem xét khi lập kế hoạch cho một chương trình sinh sản hiệu quả là tỷ lệ sử dụng, vị trí và thời gian phân bón.
Nitơ trong sản xuất lúa mì
Nitơ thực hiện nhiều chức năng quan trọng trong cây lúa mì. Lúa mì cần 2 đến 2,5 pound nitơ (N) cho mỗi giạ (bu) ngũ cốc, hoặc, nếu được chăn thả, 1 pound mỗi mẫu Anh hoặc mỗi con vật tăng 3 pound mỗi mẫu Anh. Sự thiếu hụt N có thể làm giảm khả năng đẻ nhánh, giảm kích thước đầu, hạt kém và hàm lượng protein thấp. Cây lúa mì phải có đủ N ở tất cả các giai đoạn phát triển. Việc chia tách các ứng dụng N thường cải thiện hiệu quả sử dụng, giảm thiểu rủi ro đầu tư và bảo vệ môi trường. Người trồng nên bón thúc sớm, trước khi ghép, để tối đa hóa hiệu quả sản xuất. Thời gian, vị trí và nguồn nitơ phải được quản lý để phù hợp với điều kiện khí hậu, loại đất và hệ thống canh tác.
Phốt pho trong sản xuất lúa mì
Giá phân bón và cây trồng đang ở mức cao hơn nhiều so với những năm gần đây. Độ phì phù hợp của phốt pho (P) có liên quan đến việc tăng số nhánh và số hạt, giảm tỷ lệ chết trong mùa đông, hiệu quả sử dụng nước tối đa, chín nhanh và độ ẩm của hạt thấp hơn khi thu hoạch. Lúa mì mùa đông cần khoảng 0,6 đến 0,7 l pound phốt pho pentoxit (P₂O₅) trên mỗi hạt giạ. Do P tương đối bất động trong đất nên việc bón phân theo dải hoặc bón phân ban đầu thường hiệu quả nhất trong các loại đất được thử nghiệm ở mức độ thấp đến trung bình. Ngay cả ở những loại đất có yêu cầu cao, việc bón phân khởi động giúp cây trồng phát triển nhanh hơn. Dải P còn giúp cây non khắc phục được những tác động bất lợi của độ chua của đất. Broadcast P nên được kết hợp để cải thiện tính khả dụng của vị trí. Cuối cùng, hãy nhớ rằng lượng P đầy đủ sẽ làm tăng hiệu quả thu hồi và sử dụng N. Tác động của cân bằng sinh sản và tác động của nó đến hiệu quả sử dụng chất dinh dưỡng là đặc biệt quan trọng trong môi trường ngày nay.
Kali trong sản xuất lúa mì

Kali (K) trong sản xuất lúa mì có liên quan đến việc tăng độ ẩm và hiệu quả sử dụng N, đồng thời giảm tỷ lệ mắc bệnh và đổ ngã. Yêu cầu về (K) xấp xỉ bằng N. Vị trí của K không quan trọng bằng P vì nó di động hơn trong đất. Nên bón phân rải trên vùng đất cát sâu, vùng có lượng mưa lớn để tăng hiệu quả sử dụng.
Đừng bỏ qua tầm quan trọng của chất dinh dưỡng thứ cấp và vi lượng đối với lúa mì. Ví dụ, tình trạng thiếu lưu huỳnh gây ra vấn đề ở một số khu vực. Việc áp dụng các chất dinh dưỡng này dựa trên lịch sử thực địa, kiểm tra đất và phân tích thực vật.
Sản xuất lúa mì có lợi nhuận và hiệu quả liên quan đến việc cung cấp đủ lượng chất dinh dưỡng cho cây trồng khi nào và ở đâu mà cây trồng cần. Tỷ lệ bón phân sẽ ít có giá trị nếu chất dinh dưỡng không được cung cấp đúng nơi, đúng thời điểm. Các chiến lược quản lý độ phì đất hiệu quả khác nhau tùy theo từng vùng, nhưng đặc điểm của tất cả các chương trình quản lý độ phì đất tốt là lập kế hoạch sớm.
Nguồn: Tiến sĩ WM (Mike) Stewart, Giám đốc vùng đồng bằng miền Trung và Nam Bộ, Viện Dinh dưỡng Thực vật Quốc tế (IPNI).





